ĐẶC TÍNH CỦA TÔN GIÁO (3)

12/08/2019

Hồi Giáo:                                              

So với Cơ Đốc Giáo, Hồi Giáo có vài điểm tương đồng và những nét khác nhau rõ rệt. Giống như Cơ Đốc Giáo, Hồi Giáo chỉ thờ một thần, nhưng tương phản với Cơ Đốc Giáo, Hồi Giáo chối bỏ khái niệm về Ba Ngôi. Hồi Giáo chấp nhận vài phần trong Kinh Thánh, như sách Luật và Phúc Âm, nhưng lại bác bỏ hầu hết mọi điều         khác cho rằng là vu khống và tẻ          nhạt. 
Hồi Giáo cho rằng Chúa Giê xu chỉ là một nhà tiên tri, mà không phải là con của Chúa Cha (người Hồi Giáo tin rằng chỉ có Allah là Thiên Chúa, làm sao lại có thể có con?). Ngược lại, Hồi Giáo khẳng định rằng Giê xu, mặc dù được sinh ra bởi trinh nữ, được tạo ra giống như Adam, từ cát bụi của thế gian. Người Hồi Giáo tin rằng Chúa Giê xu không chết trên Thập Tự Giá; bởi vậy, họ phủ nhận một trong những giáo lý trọng điểm của Cơ Đốc Giáo. 

Tuy thờ độc Thần, nhưng Hồi giáo nghiêm cấm mọi biểu tượng, vì biểu tượng (ngẫu tượng) tạo sự sùng kính của tín đồ sẽ giảm niềm tin với Chúa mà không thể chia cắt giữa Chúa và con người. Theo chuyện kể, khi Mohammad, ông đến Ka’aba, nơi thờ đầu tiên ở Mecca, ông ta đã phá hủy mọi ngẫu tượng ở đó. Ngày nay, giòng Hồi giáo Shia tương đối thoáng hơn Sunni về một số ảnh tượng nghệ thuật. Hồi giáokhông có thờ ảnh tượng, nhưng tỏ ra tôn kính tảng đá đen tại Mecca và vẫn để tồn tại trụ đá huyền thoại. Ngày 15/10, hàng triệu tín đồ Hồi giáo hành hương đã tập trung về thung lũng Mina của Arập Xêút để tham gia nghi lễ ném đá vào ba chiếc cột được coi là hiện thân của ác quỷ(Phật giáo Hòa Hảo cũng không thờ ngẫu tượng, chỉ dùng tấm vải màu đà làm biểu tượng)

Tín đồ Hồi giáo thực hiện nghi lễ ném đá. (Nguồn: Al Arabiya)

Lễ ném đá tại Mina diễn ra cùng thời điểm với ngày đầu tiên của lễ hiến tế Eid al-Adha được cộng đồngHồi giáo trên khắp thế giới tổ chức.
Theo phong tục của người Hồi giáo, những người hành hương về thánh địa Mecca sẽ mặc trang phục màu trắng và thực hiện nghi thức ném đá vào ba chiếc cột đá đặt tại thung lũng Mina, tượng trưng cho sức mạnh của quỷ Satan. Đây là nghi lễ cuối cùng trong tháng hành hương Haji và được coi là nghi lễquan trọng nhằm xua đuổi quỷ dữ.
(TTXVN)

Về giáo lý, Hồi giáo và Kito giáo có sự tương đồng:

Giáo lý Công giáo: Mathi ơ: 10:34 – “Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian, ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo. 35- Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với bà gia, 36- và người ta sẽ có kẻ thù nghịch là người nhà mình; 37- Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta, ai yêu con trai hay con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta.”

Lu-Ca: 14: 26 – Có đoàn dân đông cùng đi với Đức Chúa Giê su, ngài xây lại cùng họ mà phán rằng: Nếu có ai đến theo ta mà không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta.

Lu Ca: 19: 26- Hãy đem kẻ thù của ta ra đây, Những kẻ không chịu thờ kính ta trên họ, và chém đi trướcmặt ta.

Malachi, chương 2: “Nếu ai không nghe lời ta và không làm rạng danh ta, Chúa Trời sẽ trét phân lên mặt  người đó.
Mathew 23: 9- Không được gọi ai trên trái đất này là cha, vì các ngươi chỉ có một cha ở trên Trời”.

Jeremiah: 19: 9: “Và ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt con trai, con gái của chúng nó, và chúng nó sẽ ăn thịt lẫn nhau, người nọ ăn thịt người kia”

Isaiah: 13: 9-15-18: “Hãy chứng kiến ngày Chúa  đến, độc ác vì tức giận và hết sức phẫn nộ. Tất cả mọi người bắt gặp phải được đem tới. Con cái của họ bị xé ra từng mảnh trước mặt họ và vợ của họ bị  hãmhiếp”. 
Giáo   lý       Hồi    giáo,  kinh   Koran: “Nếu hình ảnh Thiên Chúa trong 
Cựu   Ước    của    đạo    Do     Thái   là một          vị thần Chiến Tranh( God of War) thì hình ảnh Thiên Chúa Allah trong kinh Koran là một vị thần của sự kinh hoàng (God of Terror) vì thiên chúa Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoạiđạo: "Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng" .Koran 8:12) 

Những điều kinh khủng trên đây, kẻ hành xử không chịu trách nhiệm mà qua đó, ý muốn và việc làm của Thượng đế. Riêng đứng về nguyên tắc của Hồi giáo, Allah có nguyên tắc “ai giữ đạo nấy. Xin mời bạn đọc Surah 119 của Thiên Kinh Qran để rõ thêm quan  điểm của Allah: 
Surah 109 - Những kẻ không có đức tin (phủ nhận Allah) 
Nhân danh Allah Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung 
1 – hãy bảo chúng “này hỡi những kẻ phủ nhận Allah 
2 – “Ta ( Muhammed) không tôn thờ những thần linh mà các ngươi thờ cúng 
3 – “các ngươi cũng sẽ không tôn thờ Đấng Allah mà Ta thờ phụng 
4 – “và ta sẽ không là một tín đồ của các thần linh mà các ngươi đang thờ lạy 
5 – “và các ngươi cũng sẽ không tôn thờ Đấng Allah mà Ta đang thờ phụng 
6 – “tôn giáo của các ngươi thuộc về các ngươi, tôn giáo của Ta thuộc về Ta.” 
Tuy giáo lý là thế, nhưng thế giới Islam đã từng có chính sách Dhimmis để cho các tôn giáo có thể sống chung theo luật lệ.   
Qran [2:256] “... không có sự bắt buộc trong tôn giáo...” 
“Về Khoa Học: Hồi giáo (Islam) chính là tôn giáo đã quan tâm đến khoa học dưới sự chỉ thị của Nabi Mohammed (saw). Kiến thức trước Islam từ nhiều nền văn minh đã có, nhưng rời rạc, lẻ tẻ. Muslim đã có công lượm lặt, hệ thống hóa nó lại để người đi sau có thể dựa vào đó mà lý luận phát minh xa hơn. Thật ra thế giới Hồi giáo đã cống hiến hơn 1000 phát minh khoa học cho thế giới , làm nền tảng cho gần 50 ngành khoa học sau này của thế giới: 
Nếu bảo HG không tôn trọng quyền tự do tín ngưởng thì không đúng , vì thiên kinh Quran thường khuyến cáo người muslim chớ đụng đến đức tin của người khác ... nhửng người có mưu đồ chính trị dùng HG để làm phương tiện, đã làm lệch lạc giáo lý và nguyên tắc cơ bản của Hồi giáo tạo ngộ nhậnvà e ngại cho thế giới ngay nay.”

Về nghi lễ, Hồi Giáo chỉ chú trọng đến cầu nguyện thường ngày, mùa chay Ramadan, và hành hươngđến Mecca. Kito giáo nguyên thủy cũng chỉ cầu nguyện (chúa Giê su từng nhịn ăn 40 ngày cầu nguyệnở sa mạc). Thời chúa Giê su còn sống, chưa hề phát sanh ra những nghi lễ rườm rà mà Do Thái giáolúc bấy giờ đã có sẵn một hệ thống tế lễ do giới Tăng lữ đảm nhiệm như Bà La Môn giáo ở Ấn độ. Phật giáo khởi thủy cũng chưa từng phát sanh nghi lễ như ngày nay, thậm chí một vài nơi các sư còn múa lửa, lên đồng, lục cúng…

Từ những biến thái đi xa nguồn gốc của những tôn giáo lớn đó, đã khai sinh ra những chi nhánh nhằm khôi phục tính nguyên thủy của tôn giáo mình. Kito giáo phát sanh ra Tin Lành, Chánh Thống giáo. Hai nhân vật nổi tiếng đã khởi xướng phong trào “Cải Cách” vào đầu thế kỷ XVI là Luther và Calvin. Luther ở Đức, Calvin ở Thụy Sĩ và Pháp. Thêm vào hai nhân vật này còn có Henri VIII nước Anh. Ông không phải là nhà lập thuyết nhưng đã đem lý thuyết Luther vào nước Anh và bắt cả Anh Quốc theo thuyết đó, biệt lập với Lamã, gọi là Anh Giáo.

Thệ Phản Giáo, Anh Giáo tất cả đều tin Chúa Kitô. Tuy họ ly khai khỏi Giáo Hội nhưng vẫn còn tin nhận Chúa Kitô, vì thế họ cũng là những Kitô hữu, dầu không phải là Công Giáo.

Giáo hội La mã tin rằng đức Thánh cha đứng trên tòa Phero tuyên bố, những lời của ngài nói đều “vô ngộ”, nghĩa là không bao giờ sai lầm, thì Hồi giáo cũng tin là những gì Mohammad nói đều là ngôn sứ của thánh Allah, không bao giờ sai lầm.

Trong cuốn “Cùng hàng quí phái Công Giáo Đức”, Luther chối không có sự gì khác biệt giữa linh mụcđược thụ phong và một tín hữu thường. Như thế là ông chối luôn sự cần thiết một người môi giới giữa Đức Chúa Trời và loài người. Ai nấy có quyền cắt nghĩa Kinh Thánh theo ánh sáng riêng của mình. Sự siêu việt của La Mã không thể tồn tại.

Trong cuốn “Đi đày ở Babylon”, Luther phủ nhận hiệu lực các phép bí tích. Luther chỉ còn nhận có phép rửa tội và Tiệc Ly. Phép giải tội, theo ông, không phải là một bí tích.

Trong cuốn “Tự do của người Kitô hữu”, Luther bắt đầu bằng câu đanh thép này: “Kitô hữu là người tự do làm chủ trên hết mọi sự và không lụy thuộc ai… (Thệ phản giáo), vì thế đã sản sanh ra nhiều chi phái chủ trương:

1)      Tin Lành cho rằng mỗi người có quyền giải nghĩa Kinh Thánh theo ý mình.

2)      Họ không nhận Đức Giáo Hoàng là đại diện chính thức Chúa Giêsu.

3)      Đối với các phép Bí Tích, Tin Lành không quan niệm như Công Giáo. Thí dụ về phép Giải Tội, họ cho rằng cho được khỏi tội không cần phải xưng với thầy cả. Hay có xưng thì chỉ cần nói mình tội lỗitràn trề rồi ăn năn thống hối là được. Càng tội lỗi nhiều càng tin mạnh mẽ hơn mới khỏi tội. Còn phép Thánh Thể thì theo Tin Lành không phải là Chúa ngự thật trong Thánh Thể, đây chỉ là một kỷ niệm quí báu nhắc lại bữa Tiệc Ly thôi.

4)      Tin Lành không tin rằng Đức Bà Maria là Mẹ Thiên Chúa, chỉ là Mẹ Chúa Giêsu thôi. Và đã là Mẹ thì không đồng trinh nữa. Những tước hiệu Công Giáo tặng cho Ngài chỉ hiểu theo nghĩa bóng chứ không hiểu theo nghĩa đen.

5)      Phận sự chính của một người Tin Lành là đọc Kinh Thánh đêm ngày. Lấy Kinh Thánh giải quyếtmọi sự, càng tìm hiểu Kinh Thánh thì càng được ơn Thánh Linh dồi dào, Chủ Nhật thì tập trung ở nhà thờ nghe giải thích Kinh Thánh, ngắm những câu ca vịnh Kinh Thánh đã biên ghi… (Làn sóng tôn giáo, trg. 286)

Kito giáo chia rẽ ra Tin lành giáo và các hệ phái thì Hồi giáo cũng phân làm hai là Sunny và Shia. Phật giáo có Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển. Tại Việt Nam, cũng trong giai đoạn Phật giáo sa sút trầm trọng vào thời Pháp thuộc, đời sống Tăng lữ trở thành thầy cúng, để cứu nguy tiền đồ Phật giáo, đã hình thành một hệ phái Khất sĩ sống lại thời kỳ Phật giáo sơ khai, không nghi lễ, không hình thức rườm rà; giới luật nghiêm túc, tam y một bát…

Trước Phật giáo Khất sĩ không lâu, cũng có mặt Phật giáo Hòa Hảo, một hệ phái không có Tăng lữ, tín đồ sống đúng lời đức thầy Huỳnh Phú Sổ, ngài tự nhận là “đệ tử trung thành của đức Phật Thích Ca”, giúp tín đồ giữ ngũ giới, giản dị lễ nghi và thờ phụng, không chú trọng về hình tướng, ngẫu tượng, chuyên làm từ thiện…

 Sự phân phái là hệ quả tất yếu hỗ trợ sự phát triển như sự phát triển của cây cổ thụ càng lớn thì vỏ cây càng rạn nứt.

***

Tôn giáo nào cũng trải qua những giai đoạn khủng hoảng từ nội bộ đến áp lực bên ngoài, hoặc là xã hợi hoặc là giai đoạn chính trị, hoặc là tôn giáo với tôn giáo.

Lúc bấy giờ đạo Phật phát triển mạnh ở Ấn tạo mặc cảm thành kiến với giáo sĩ và tín đồ Bà La Môn giáo, bởi giáo lý đức Phật phủ nhận toàn bộ những bất bình đẳng trong xã hội, đề cao tự lực và trí tuệgiải thoát mà không dựa vào tha lực Thần thánh. Họ đã hạ thấp vị trí đức Phật bằng cách tuyên truyền rằng, Đức Phật là hóa thân thứ chín của thần Vishnu. Thuyết luân hồi nghiệp báo tuy giống như của Bà La Môn giáo, thực chất nội dung hoàn toàn khác biệt.

Đạo Phật là tôn giáo giác ngộ của “TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ SỰ TỈNH THỨC” chứ không phải tôn giáocủa đức tin thuần túy. Cái giống nhau của các tôn giáo lớn là nêu cao tình thương, riêng hai chữ tình thương của Phật giáo bao trùm cả mọi sinh động vật, trong khi đó các tôn giáo Thần học chỉ áp dụngtình thương đối với con người, nghĩa là không sát hại loài người. Chính vì thế, tại Ấn độ thường hy sinhhàng vạn động vật cho mùa hiến tế.

Về pháp môn hành trì, tuy các tôn giáo Thần học về hình thức lễ nghi rườm rà, nhưng vẫn có những trường hợp đặc biệt gọi là Thần khải, Thần thể mà cá nhân được Chúa chọn, tiếp xúc với Thần khí ơn trên trong những biệt thất mà nhà Phật gọi là nhập thất, độc cư. Thỉnh thoảng vẫn có những Đạo sư của các thần giáo đạt được tuệ nhãn theo chiều hướng tâm linh huyền thuật. Vào những thế kỷ trước, tại Nga, có một Giám mục thuộc hệ phái Thông Thiên học, dưới sự dẫn dắt của bà  Helena Blavatsky,đã nghiệm chứng tâm linh giao thoa với Thượng đế (theo học thuyết Thông Thiên học) Thông Thiên Học là một học thuyết triết học - tôn giáo đề cập khả năng trải nghiệm trực tiếp với Thượng Đế, thông qua cảm giác thần bí và sự mặc khải. (sẽ tìm hiểu vấn đề mật khải ở bài sau).

Hồi giáo cũng có trường phái Mật tông cá biệt nhưng không phổ biến. Yoga, Đạo, và một số trường phái tâm linh gần với trạng thể Mật tông (khác với Mật tông của Kim Cang thừa Tạng giáo). Mật tông của Phật giáo kể cả Đông và Tây mật cũng ảnh hưởng từ gốc Bắc Ấn xa xưa, trộn lẫn học thuyết Phật giáolập thành giáo lý Mật thừa chuyên biệt. Mật tông Thần giáo đều chú hướng đến một Thần tượng sáng tạo, riêng Mật tông Phật giáo (còn gọi là Kim Cang thừa) tuy mang sắc thái Thần bí, nhưng đích đến vẫn là giải thoát khỏi “tam giới” mà không lệ thuộc bất cứ Thần thể nào.

Phật giáo nói chung và Kim Cang thừa nói riêng đều thoát khỏi ảnh hưởng Thần thể mật khải của các hành giả Yoga có khuynh hướng Thần khải. Sau nhiều thập kỷ, ảnh hưởng triết học thần giáo Phạm Thiên, Áo nghĩa thư đã có quan niệm về luân hồi quả báo theo luận thuyết triết lý, dần dà tách rời khỏi ảnh hưởng Thần học của Phệ đà giáo về miền đất hứa vô hình. Từ đây, tôn giáo đa thần tiến đến độcthần rồi các hệ phái phi thần xuất hiện. Các hệ phái phi thần quan niệm chúng sanh không chịu sự chi phối của vị Thần sáng tạo mà chúng sanh chịu trách nhiệm những gì mình đã làm. Giải thoát kiếp ô trọc này không do tế lễ cúng kiến, không do cầu nguyện làm phước mà do tự thân hóa giải nghiệp thức. Một số hiểu lầm những quan điểm phi thần là thuộc loại vô thần của Phật giáo, Kỳ Na giáo.

***

Cuộc sống càng văn minh, trình độ dân trí dần được khai hóa thì vấn đề tôn giáo thần học dần bị thu hẹp. Tôn giáo như đạo Phật tạm gọi là tôn giáo, cơ bản vẫn là một triết thuyết dẫn dắt nhân sinh theo chiều hướng tự thân giải thoát mọi ràng buộc từ ngoại cảnh đến nội tâm; đến lúc hành giả nhận ra tâm và cảnh là một thì con đường thoát khổ nằm trong tầm tay.

Các Tôn giáo lớn như Kito giáo, Hồi giáo, Phật giáo, có thể giống nhau ở một số quan điểm về đạo đứcxã hội, riêng phật giáo không hề cách ly hiện thực và lý tưởng để phủ nhận cuộc sống hiện thực chuẩn bị cho thế giới lý tưởng như hầu hết các tôn giáo Thần học, vì Phật giáo phủ nhận một đấng sáng tạo, đó là điều đặc biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác. Vì thế, quan niệm của Mac và những nhà Duy vật sẽ không đúng khi có cái nhìn Phật giáo như những tôn giáo, và định nghĩa Tôn giáo của họ như trên đây hoàn toàn xa lạ với đạo Phật.

 

MINH MẪN